Chủ Nhật, 1 tháng 9, 2013

Lịch sử, mắt xích yếu trong yêu sách biển của Bắc Kinh

Yêu sách của Bắc Kinh đối với gần như toàn bộ biển Đông hiện nay được tô vẽ trong các hộ chiếu mới và bản đồ chính thức của Trung Quốc (TQ). Lãnh đạo TQ và người phát ngôn Bộ Ngoại giao nhấn mạnh với mức hung hăng ngày càng tăng rằng các đảo, đá, và các rạn san hô là “lãnh thổ từ thời xa xưa” của TQ. Thông thường, đối với chủ quyền và ranh giới biển thì các yêu sách lãnh thổ chồng lấn phải được giải quyết thông qua việc vận dụng kết hợp luật tập quán quốc tế, phán quyết trước Tòa án Quốc tế hoặc Tòa án Quốc tế về Luật Biển, hoặc trọng tài theo Phụ lục VII của Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS). Trong khi TQ đã phê chuẩn UNCLOS và Công ước này nói chung không chấp nhận bỏ các yêu sách “dựa trên lịch sử”, nhưng đó lại đúng là loại yêu sách mà Bắc Kinh đưa ra lúc này lúc khác. Hôm 4 tháng 9 năm 2012, Ngoại trưởng TQ, ông Dương Khiết Trì, nói với Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton rằng có “rất nhiều bằng chứng lịch sử và pháp lý cho thấy rằng TQ có chủ quyền đối với các đảo ở biển Đông và các vùng biển liền kề”.

Xét về mặt “bằng chứng pháp lý”, đại đa số các chuyên gia pháp lý quốc tế đều kết luận rằng yêu sách sở hữu (danh nghĩa) lịch sử của TQ đối với biển Đông, bao hàm thẩm quyền chủ quyền đầy đủ và đồng ý cho các nước khác đi ngang qua là không hợp lệ và không hợp pháp. Các bằng chứng lịch sử, nếu có, thậm chí còn kém thuyết phục. Có nhiều mâu thuẫn trong việc TQ sử dụng lịch sử để biện minh cho yêu sách của họ đối với các đảo và rạn đá ở biển Đông, không ít trong số đó là sự khẳng định đầy tranh cãi của họ về các tương đồng với việc bành trướng đế quốc chủ nghĩa của Hoa Kì và các cường quốc châu Âu trong thế kỉ XVIII và XIX. Biện minh cho những nỗ lực của TQ mở rộng biên giới biển của họ qua việc yêu sách các đảo và rạn đá xa bờ, Cổ Khánh Quốc (Jia Qingguo), giáo sư trường Đại học Quan hệ Quốc tế Bắc Kinh, cho rằng TQ chỉ đơn thuần theo gương phương Tây. “Hoa Kỳ thì có đảo Guam ở châu Á ở rất xa đất Mỹ và người Pháp thì có các đảo ở Nam Thái Bình Dương, vì vậy chẳng có điều gì mới cả”, Cổ Khánh Quốc nói với AFP mới đây.

Phân tích sâu xa về các “bằng chứng lịch sử” làm cơ sở cho các yêu sách của TQ cho thấy rằng lịch sử thật ra không đứng về phía TQ. Nếu có thì yêu sách của TQ đối với quần đảo Trường Sa trên cơ sở lịch sử bị mắc mứu ở chỗ là không có đế chế nào của khu vực trước đây đã thực thi chủ quyền. Ở châu Á thời tiền hiện đại, các đế chế có đặc điểm là có các đường biên giới không xác định, không được bảo vệ, và thường thay đổi. Khái niệm về quyền bá chủ (suzerainty) chiếm ưu thế. Không giống như một nhà nước – dân tộc (nation-state), biên giới của đế chế TQ vừa không được vẽ cẩn thận vừa không bố phòng mà giống như các vòng tròn hay các khu vực, giảm dần từ trung tâm của nền văn minh ra đến vùng ngoại vi của người man di xa lạ. Quan trọng hơn, trong các tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng Ấn Độ, Miến Điện và Việt Nam, Bắc Kinh luôn luôn giữ lập trường cho rằng ranh giới trên bộ của họ chưa bao giờ được xác định, phân giới cắm mốc. Nhưng bây giờ, khi nói đến các đảo, bãi ngầm, và các rạn đá trong vùng biển Đông, Bắc Kinh lại tuyên bố khác đi. Nói cách khác, TQ tuyên bố rằng ranh giới trên bộ của họ chưa bao giờ được xác định và phân giới trong lịch sử trái ngược hẳn với lập trường rằng biên giới trên biển của TQ luôn luôn xác định và có phân giới rạch ròi. Mâu thuẫn cơ bản trong lập trường của TQ về biên giới trên bộ và biên giới trên biển nằm ở đây, nên nó không đứng vững được. Trên thực tế, chính những nỗ lực hồi giữa thế kỷ XX nhằm chuyển đổi các đường biên giới không xác định của các nền văn minh và vương triều xưa kia hưởng quyền bá chủ thành các đường biên giới xác định rạch ròi, giới hạn, và có phân giới của các nhà nước – dân tộc hiện đại thưc thi chủ quyền nằm ở trung tâm của các tranh chấp lãnh thổ và biển của TQ với các nước láng giềng. Nói một cách đơn giản, chủ quyền là một khái niệm hậu đế quốc gắn với nhà nước-dân tộc, không phải với các đế chế xưa kia.

Khái niệm về chủ quyền không phải là một khái niệm của TQ hoặc của châu Á mà là một khái niệm của châu Âu bắt nguồn với việc ký kết Hiệp ước Westphalia năm 1648. Chủ yếu là một khái niệm cho đất liền và mãi cho tới giữa thế kỷ XX mới áp dụng cho các nhà nước – dân tộc ở châu Á và châu Phi. Hệ thống nhà nước Westphalia dựa trên khái niệm về sự bình đẳng pháp lý hay chủ quyền quốc gia đối với biên giới xác định rõ ràng ngoài cùng phân biệt chính nó không những với chế độ phong kiến cũ ở châu Âu mà còn với các hình thức quyền bá chủ khác đã tồn tại vào thời điểm đó ở châu Á – Ba Tư, TQ và Ấn Độ. Trước khi có Hiệp ước Westphalia, các vương triều và đế chế ở châu Âu và các nơi khác không thể tuyên bố hoặc thực thi chủ quyền.

Lịch sử, như được biết đến, được viết bởi người chiến thắng, không phải bởi kẻ bại trận. Biên giới hiện tại của TQ phần lớn phản ánh những ranh giới được thiết lập trong thời hoàng kim của chủ nghĩa bành trướng nhà Thanh (Mãn Châu) thế kỷ XVIII, mà qua thời gian đã được kiên cố hoá thành biên giới quốc gia cố định (ngoại trừ Ngoại Mông, chủ yếu vì Liên Xô) theo sự áp đặt của hệ thống nhà nước – dân tộc Westphalia trên toàn châu Á trong thế kỷ XIX và XX. Tuy nhiên, lịch sử chính thống của TQ ngày nay thường bóp méo giai đoạn lịch sử phức tạp này, tuyên bố rằng người Mông, Tạng, Mãn, và Hán đều là người TQ, trong khi thật ra Vạn Lý Trường Thành được các triều đại TQ xây lên để bảo vệ Trung Hoa Hán tộc trước sự xâm lấn thường xuyên của người Mông Cổ và các bộ tộc Mãn Châu phía Bắc, bức tường thành này thực sự thể hiện vòng an ninh bên ngoài của đế chế Trung Hoa Hán tộc. Trong khi hầu hết các nhà sử học coi sự càn quét của các đoàn quân Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo trong những năm đầu thế kỷ XIII như một sự kiện phá hoại lớn đe dọa sự sống còn của các nền văn minh xưa ở Ấn Độ, Ba Tư, và các nước khác, người TQ lại cỗ võ một cách có ý thức huyền thoại cho rằng ông ta thực sự là người “TQ”, và do đó tất cả các khu vực mà người Mông Cổ (nhà Nguyên) đã từng chiếm đóng hoặc chinh phục (như Tây Tạng và phần lớn Trung và Nội Á) đều thuộc về TQ bằng cách vận dụng khái niệm về chủ quyền của phương Tây hồi thế kỷ XVI trở ngược lại cho châu Á thế kỷ XII. Các yêu sách của TQ đối với Đài Loan và biển Đông cũng dựa trên cơ sở là cả hai đều là bộ phận của đế chế Mãn Châu. (Trên thực tế, trong các bản đồ nhà Thanh hay Mãn Châu, chính đảo Hải Nam chứ không phải là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, được mô tả như là ranh giới cuối cùng phía nam của TQ). Trong phiên bản lịch sử này, bất kỳ lãnh thổ nào bị “người TQ” chinh phục trong quá khứ vẫn cứ luôn là của TQ, bất chấp cuộc chinh phục xảy ra vào lúc nào.

Việc viết và viết lại lịch sử từ góc độ dân tộc chủ nghĩa như thế để tăng cường sự đoàn kết dân tộc và tính chính đáng của chế độ đã được các nhà lãnh đạo của TQ cả phe Quốc dân đảng lẫn Cộng sản dành ưu tiên cao nhất. Lãnh đạo Đảng Cộng sản TQ tự xử sự một cách có ý thức như là người thừa kế di sản của đế chế TQ, thường sử dụng các biểu tượng và lối ăn nói của đế chế. Từ sách giáo khoa tiểu học cho đến các bộ phim truyền hình về lịch sử, hệ thống thông tin do nhà nước kiểm soát nhồi nhét các thế hệ người TQ về sự oai phong, vĩ đại của Trung Hoa đế chế. Như nhà Hán học Úc Geremie Barmé chỉ ra: “Trong nhiều thập kỷ, nền giáo dục và tuyên truyền TQ đã nhấn mạnh vai trò của lịch sử trong sự phát triển của nhà nước – dân tộc TQ … Trong khi chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao đã bị vứt bỏ hết chỉ còn cái tên thì vai trò của lịch sử trong tương lai của TQ vẫn kiên định”. Cứ như vậy đến nỗi lịch sử đã được các viện nghiên cứu, các phương tiện truyền thông và các cơ quan giáo dục do nhà nước điều khiển thêu dệt thành một công cụ lãnh đạo nhà nước (còn được gọi là “xâm lược bản đồ”).

TQ sử dụng chuyện dân gian, thần thoại, truyền thuyết, cũng như lịch sử để cổ suý yêu sách lãnh thổ trên bộ và trên biển lớn hơn. Sách giáo khoa TQ thuyết giáo khái niệm Vương triều Trung tâm (Trung Hoa) như là nền văn minh lâu đời nhất và tiên tiến nhất nằm ngay tại trung tâm của vũ trụ, bao quanh bởi các nước nhỏ hơn bị Hoa hóa một phần trong khu vực Đông và Đông Nam Á, các nước này phải liên tục cúi đầu thần phục họ. Phiên bản lịch sử TQ thường cố tình làm lu mờ sự phân biệt giữa những cái không gì khác hơn là ảnh hưởng bá quyền, mối quan hệ triều cống, quyền bá chủ với sự kiểm soát thực tế. Tán đồng quan điểm cho rằng những ai làm chủ được quá khứ sẽ khống chế hiện tại và vạch hướng cho tương lai, Bắc Kinh luôn luôn đặt cược rất cao vào “con bài lịch sử” (thường là một cách giải thích xét lại lịch sử) trong các nỗ lực ngoại giao của mình nhằm đạt được mục tiêu của chính sách đối ngoại, nhất là để bắt các nước khác nhượng bộ lãnh thổ và ngoại giao. Hầu như tất cả các nước tiếp giáp, lúc này hay lúc khác, đều bị sức mạnh vũ lực của TQ đụng đến – Mông Cổ, Tây Tạng, Miến Điện, Hàn Quốc, Nga, Ấn Độ, Việt Nam, Philippines, và Đài Loan – và đều là đối tượng cho lịch sử xét lại của TQ. Như Martin Jacques lưu ý trong cuốn When China Rules the World (Khi TQ thống trị thế giới) “Chủ nghĩa Hoa vi trung đế quốc định hình và là nền tảng cho chủ nghĩa dân tộc TQ hiện đại”. Nếu không được kiểm soát, sự kiêu căng đế quốc hoặc lòng luyến tiếc quay về quá khứ có thể có những hậu quả không thể đoán trước cho hòa bình và ổn định khu vực.

Nếu ý tưởng về chủ quyền quốc gia xuất hiện ở châu Âu thế kỷ XVII và hệ thống đó bắt nguồn từ Hiệp ước Westphalia, thì ý tưởng về chủ quyền trên biển chủ yếu là khái niệm do Mỹ đặt ra giữa thế kỷ XX mà TQ đã vơ vào để mở rộng biên giới biển của mình. Như Jacques lưu ý, “Ý tưởng về chủ quyền trên biển là một phát minh tương đối gần đây, bắt đầu từ năm 1945 khi Hoa Kỳ tuyên bố rằng họ có ý định thực hiện chủ quyền đối với lãnh hải của họ”. Trong thực tế, Công ước LHQ về Luật Biển thể hiện nỗ lực quốc tế nổi trội nhất nhằm áp dụng các khái niệm về chủ quyền trên đất liền vào lĩnh vực biển trên toàn thế giới – tuy vậy điều quan trọng là nó bác bỏ ý tưởng biện minh bằng quyền lịch sử. Vì vậy, mặc dù Bắc Kinh yêu sách khoảng 80% biển Đông là “vùng nước lịch sử” (và hiện đang tìm cách nâng yêu sách này lên thành một “lợi ích cốt lõi” ngang với các yêu sách chủ quyền đối với Đài Loan và Tây Tạng), nói theo lịch sử, nếu TQ có quyền yêu sách biển Đông tới mức nào thì Mexico cũng có quyền yêu sách sử dụng độc quyền vịnh Mexico, hoặc Iran đòi Vịnh Ba Tư, hay Ấn Độ đòi Ấn Độ Dương đến mức đó. Nói cách khác, chẳng có chủ quyền gì cả. Theo quan điểm pháp lý, “việc tên gọi ‘biển Nam Trung Hoa’ được sử dụng nhiều không [có ý] trao chủ quyền lịch sử cho TQ“. Các nước sử dụng lịch sử để yêu sách chủ quyền đối với các đảo đều có sự đồng ý của nước khác và có cách giải thích lịch sử được các bên chấp nhận – cả hai yếu tố này đều không có ở Biển Đông.

Các đế chế xưa hoặc giành được quyền kiểm soát vùng lãnh thổ thông qua xâm lược, thôn tính hay đồng hóa hoặc để mất chúng vào tay đối thủ có binh lực hoặc khả năng cai quản nhà nước ưu việt hơn. Mở rộng và thu hẹp lãnh thổ là chuẩn mực, được xác định bởi sự hùng mạnh hay sự suy yếu của một vương triều hay đế chế. Ý tưởng “lãnh thổ thiêng liêng” là phi lịch sử bởi vì việc kiểm soát lãnh thổ thì dựa trên việc nước nào tóm được hoặc lấy cắp những gì thuộc nước khác cuối cùng. Biên giới của nhà Tần, Hán, Đường, Tống, Minh khi nở khi co suốt trong lịch sử. Một Trung Hoa đế chế hùng mạnh, giống như nước Nga Sa hoàng, là kẻ bành trướng ở vùng Nội Á và Đông Dương mỗi khi cơ hội xuất hiện và sức mạnh cho phép. Việc bành trướng lãnh thổ dần dần qua nhiều thế kỷ dưới hai triều đại không Trung Hoa là Mông Cổ và Mãn Châu mở rộng sự kiểm soát của triều đình TQ đối với Tây Tạng và nhiều vùng đất ở Trung Á (nay là Tân Cương), Đài Loan và Đông Nam Á. Trên thực tế, TQ hiện đại là một “nhà nước-đế chế” đội lốt một nhà nước-dân tộc.

Ngay cả khi người ta phải chấp nhận lập luận “yêu sách lịch sử” của Bắc Kinh cho một thời điểm thì vấn đề lại là đế chế Trung Hoa không phải là đế chế duy nhất ở châu Á thời tiền hiện đại và trên thế giới. Còn có các đế chế và vương triều khác nữa. Nhiều nước có thể đưa ra “yêu sách lịch sử” có cùng giá trị như thế đối với những vùng đất hiện nay không phải là phần lãnh thổ của họ mà đang đặt dưới sự kiểm soát của TQ (ví dụ , vùng Cam Đa (Gando) ở tỉnh Cát Lâm, TQ thuộc về Triều Tiên) . Trước thế kỷ XX, ở châu Á không có nhà nước – dân tộc có chủ quyền với biên giới thuộc thẩm quyền và trong tầm kiểm soát được xác định về mặt pháp lý rõ ràng. Nếu các yêu sách của TQ biện minh được trên cơ sở lịch sử, thì các yêu sách lịch sử của Việt Nam và Philippines dựa trên lịch sử cũng biện minh được. Ví dụ, các sinh viên lịch sử châu Á đều biết rằng dân MaLaysia có liên hệ đến người Philippines hiện nay nên yêu sách của họ đối với Đài Loan sẽ thuyết phục hơn nhiều so với Bắc Kinh. Bởi vì Đài Loan ban đầu được định cư bởi con cháu những người Malay-Polynesian – tổ tiên của các nhóm thổ dân ngày nay – họ từng sống ở vùng đồng bằng thấp ven biển. Nhà quan sát Châu Á nổi bật Philip Bowring lập luận rằng “[s]ự kiện TQ có những ghi chép lịch sử lâu dài không làm mất hiệu lực lịch sử các quốc gia khác thể hiện qua các hiện vật, ngôn ngữ, dòng giống và các quan hệ di truyền, các bằng chứng về giao thương và đi lại”.

Trừ khi tán đồng khái niệm về ngoại lệ của TQ, “yêu sách lịch sử” của TQ đế chế có giá trị giống như những vương triều và đế chế khác trong khu vực Đông Nam và Nam Á. Vấn đề với lịch sử là vạch ra lằn ranh ở đâu, lúc nào, tại sao thế, và quan trọng hơn là phiên bản lịch sử của nước nào là chính xác. TQ đưa ra yêu sách về quyền sở hữu đối với thuộc địa của đế chế Mông Cổ và Mãn Châu sẽ tương tự như Ấn Độ đưa ra yêu sách đối với Afghanistan, Bangladesh, Miến Điện, Malaysia (Srivijaya), Nepal, Pakistan và Sri Lanka trên cơ sở rằng tất cả các nước này đều bộ phận hoặc của đế chế Maurya, Chola hoặc của đế chế Moghul và đế quốc Ấn Độ thuộc Anh. Suốt từ thể kỷ X tới thế kỷ XIII, một số vị vua của Pallava và Chola ở miền nam Ấn Độ đã tập hợp lực lượng hải quân và quân đội lớn lật đổ các vương triều lân cận và thực hiện các cuộc tấn công trừng phạt đối với các nước trong khu vực vịnh Bengal . Họ cũng đã ra biển để chinh phục nhiều khu vực thuộc những vùng đất mà bây giờ là Sri Lanka, Malaysia và Indonesia. Trong nghiên cứu về văn hóa chiến lược Ấn Độ, George Tanham nhận xét: “Trong cái thực sự là một cuộc chiến về thương mại giữa TQ, Ấn Độ và châu Âu, người Cholas đã khá thành công trong các can dự cả về hải quân lẫn đất đai và đã cai trị nhiều phần của Đông Nam Á trong một thời gian ngắn”.

Các yêu sách của TQ ở biển Đông cũng đánh dấu một sự chuyển đổi lớn khỏi định hướng địa chính trị lâu đời đối với cường quốc lục địa. Với việc tuyên bố có một truyền thống mạnh mẽ về đi biển, TQ đề cập nhiều cuộc thám hiểm của Trịnh Hòa tới Ấn Độ Dương và Châu Phi đầu thế kỷ XV. Nhưng, như Bowring chỉ ra rằng ”Trong lĩnh vực hàng hải bên ngoài vùng nước ven biển thì người TQ thực sự là kẻ đi sau. Trong nhiều thế kỷ, các bậc thầy của các đại dương là dân Malay-Polynesian, những người từng thuộc địa hóa phần lớn thế giới, từ Đài Loan đến New Zealand và Hawaii về phía nam và phía đông , rồi Madagascar về phía tây. Các chum đồng đã được giao thương với Palawan, ngay phía nam của Scarborough vào thời của Khổng Tử. Khi những nhà tu Phật giáo TQ như Pháp Hiển (Faxian) đi Sri Lanka và Ấn Độ vào thế kỷ V, họ đã đi trên tàu do người MaLaysia sở hữu và điều khiển. Tàu từ vùng mà nay là Philippines đã giao thương với Phù Nam, một nước hiện nay là miền Nam Việt Nam, cả ngàn năm trước nhà Nguyên”.

Và cuối cùng, cái gọi là “yêu sách lịch sử” của TQ đối với biển Đông thực sự không phải là “hàng thế kỷ”. Các yêu sách này chỉ bắt đầu từ năm 1947, lúc chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch vẽ ra cái gọi là “đường 11 đoạn” trên bản đồ biển Đông của TQ, bao quanh quần đảo Trường Sa và các chuỗi đảo khác mà Quốc Dân Đảng cầm quyền tuyên bố thuộc chủ quyền TQ. Chính Tưởng Giới Thạch, khi nói rằng đã xem phát xít Đức như một mô hình cho TQ, đã bị cuốn hút bởi ý tưởng Nazi (Quốc xã) về một Lebensraum (“không gian sống”) mở rộng cho dân tộc Trung Hoa. Ông đã không có cơ hội để tự mình thành kẻ theo chủ nghĩa bành trướng bởi vì người Nhật buộc ông vào thế phòng thủ, nhưng những người vẽ bản đồ của chế độ Quốc dân đảng đã vẽ đường chữ U 11 đoạn trong cố gắng để mở rộng “không gian sống” của TQ ở biển Đông chẳng bao lâu sau khi Nhật thua trận trong Thế chiến II. Rõ ràng, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc cũng đã tức giận về các bản đồ thời Thế chiến II của Nhật Bản cho thấy toàn bộ biển Đông như một cái hồ của Nhật Bản. Lần đầu tiên chính phủ TQ cho tàu hoạt động đi vào vùng biển Đông là vào năm 1947 với chuyến đi của các tàu Trung Hoa Dân Quốc Trung Kiện (Zhongjian), Trung Nghiệp (Zhongye) Thái Bình (Taiping và Vĩnh Hưng(Yongxing.) Mãi đến nhiều năm sau đó họ mới bắt đầu việc khảo sát. Sau khi Đảng Cộng sản TQ chiến thắng trong cuộc nội chiến vào năm 1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã tiếp nhận cú xâm lược bản đồ này, chỉnh lại khái niệm của Tưởng Giới Thạch thành “đường 9 đoạn” sau khi xóa hai đoạn ở Vịnh Bắc Bộ năm 1953 thể hiện cả những chỗ mà chính phủ THDQ chưa từng đến. Cho mãi tới năm 2005 , bản đồ bãi cạn Scarborough do Hải quân PLA công bố chỉ là một bản sao y từng dữ liệu một của bản đồ Hải quân Mỹ (cảm ơn Barney Moreland đã cung cấp cho tác giả thông tin này).

Từ khi Chiến tranh Thế giới II kết thúc, TQ đã vẽ lại bản đồ của họ, xác định lại biên giới, tạo dựng bằng chứng lịch sử, sử dụng vũ lực để tạo ra các thực thể lãnh thổ mới, đặt tên lại các đảo, và tìm cách áp đặt phiên bản lịch sử của mình lên các vùng biển trong khu vực. Nặm 1972 họ thông qua “Luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải”, tuyên bố chủ quyền 4/5 biển Đông, tiếp sau là những cuộc đụng độ vũ trang với hải quân Philippines và Việt Nam trong suốt những năm 1990. Gần đây hơn, họ phái một số lượng lớn tàu cá và tàu hải giám đến vùng biển tranh chấp theo cái tương tự như cuộc “chiến tranh nhân dân trên vùng biển quốc tế” đã làm tăng căng thẳng nhiều hơn. Trích lời bình luận Sujit Dutta, “chủ thuyết phục hồi lãnh thổ không suy giảm của TQ dựa trên … lý thuyết rằng vùng ngoại vi phải được chiếm cứ để đảm bảo an toàn cho vùng lõi. [Điều này] là một khái niệm cơ bản thời đế chế đã được phe dân tộc chủ nghĩa TQ – cả Quốc Dân Đảng lẫn Cộng sản – quốc tế hóa. Những nỗ lực của chế độ [hiện nay] để vươn tới biên giới địa lý theo họ tưởng tượng thường có cơ sở lịch sử ít ỏi và tiếp tục có hậu quả chiến lược bất ổn cao”.

Rõ ràng, một lý do mà dân Đông Nam Á cảm thấy khó chấp nhận yêu sách lãnh thổ của TQ là điều đó sẽ có nghĩa là chấp nhận ý niệm về sự ưu việt của chủng tộc Hán hơn các chủng tộc và đế chế châu Á khác. Jay Batongbacal thuộc trường Đại học luật Philippines nói: “Một cách trực giác, chấp nhận đường 9 đoạn là một sự chối bỏ tương ứng về bản sắc và lịch sử thật sự của tổ tiên người Việt Nam, Philippines, và Malaysia, thực chất đó là việc hồi sinh trong thời hiện đại sự phỉ báng các sắc dân không TQ là ‘man di’ không được hưởng sự tôn trọng và phẩm giá ngang bằng với tư cách là các dân tộc”.

Tóm lại, các đế chế và vương triều không bao giờ thực thi chủ quyền. “Vấn đề lịch sử” là rất phức tạp và không thừa nhận cách giải thích dễ dãi. Nếu yêu sách lịch sử có giá trị nào đó thì Mông Cổ có thể yêu sách tất cả các khu vực của châu Á đơn giản là vì họ đã từng chinh phục các vùng đất của châu lục này. Hoàn toàn không có cơ sở lịch sử để hậu thuẫn bất cứ yêu sách nào trong những yêu sách đường nhiều đoạn đó, nhất là xét rằng các vùng lãnh thổ của đế chế TQ chưa bao giờ được phân định biên giới kỹ càng như các nhà nước – dân tộc mà chỉ tồn tại như các vùng ảnh hưởng từ một trung tâm văn minh giảm dần đi. Đây là lập trường mà TQ đương đại bắt đầu xác lập vào thập niên 1960 khi đàm phán biên giới trên trên bộ với nhiều láng giềng. Nhưng đó không phải là lập trường của họ hiện nay trong các cuộc chạm trán về bản đồ, ngoại giao và quân sự mức thấp để xác định biên giới.

Việc diễn giải lại liên tục lịch sử để đẩy mạnh các yêu sách chính trị, lãnh thổ trên bộ và trên biển hiện đại, kết hợp với khả năng của giới lãnh đạo Cộng sản kích động hay dập tắt “các cao trào dân tộc chủ nghĩa” giống như tắt mở một khoá nước trong những thời điểm có căng thẳng với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và Philippines, khiến Bắc Kinh khó trấn an các nước láng giềng rằng “sự trỗi dậy hòa bình” của họ là hoàn toàn hòa bình. Chấp nhận phiên bản lịch sử của TQ được xem như tương đương với chối bỏ lịch sử của các nước khác và ý niệm bình đẳng về chủ quyền của các nhà nước – dân tộc. Do có sáu bên yêu sách các đảo san hô vòng, đảo thường, đảo đá, và các mỏ dầu ở biển Đông, các tranh chấp ở quần đảo Trường Sa, tự bản chất, là những tranh chấp đa phương đòi hỏi phân xử qua trọng tài quốc tế. Nhưng việc Bắc Kinh một mực đòi theo cách tiếp cận song phương để giải quyết tranh chấp chủ yếu dựa vào niềm tin rằng Bắc Kinh có thể thành công do sức mạnh tương đối lấn lướt của TQ và sự chia rẽ của ASEAN. Tuyên bố của TQ về “chủ quyền không thể tranh cãi đối với biển Đông” có nguồn gốc vào cuối thập niên 1940 – chứ không phải trong lịch sử xa xưa – đặt ra một thách thức đối với tất cả các quốc gia biển.

Mohan Malik là giáo sư thuộc Trung tâm Châu Á-Thái Bình Dương về Nghiên cứu An ninh, Honolulu. Đây là những quan điểm cá nhân của tác giả và không phản ánh quan điểm của Trung tâm Châu Á-Thái Bình Dương. Một phiên bản trước, ngắn hơn xuất hiện trong World Affairs, tháng5 / 6 năm 2013. Gửi lời cảm ơn đặc biệt tới Carleton Cramer, Carlyle Thayer, Justin Nankivell, Denny Roy và Barney Moreland vì nhừng ý kiến và góp ý vô giá.

Tác giả: Mohan Malik

Người dịch: Huỳnh Phan

30-08-2013

Nguồn: The Diplomat

Tiếng Việt: Ba Sàm

Thứ Bảy, 31 tháng 8, 2013

Việt Nam tăng cường sức mạnh cảnh sát biển giữa lúc biển Đông căng thẳng.

HÀ NỘI - Việt Nam đã bổ sung thêm ba tàu tuần tra cho Cảnh sát biển để có một lập trường mạnh mẽ trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông .



Động thái này diễn ra trong bối cảnh Trung Quốc phát triển ngày càng mạnh mẽ trong tuyên bố sở hữu khoanh vùng trong toàn bộ vùng biển , một lần nữa từ chối đàm phán đa phương với Hiệp hội 10 thành viên của các quốc gia Đông Nam Á và nhấn mạnh vào các cuộc đàm phán song phương với các nước nhỏ hơn. Trong khi đó , Philippines cho biết, lời mời Tổng thống Benigno Aquino III đến thăm một hội chợ thương mại tại Trung Quốc đã được thu hồi .

Song song với việc gia tăng số lượng tàu , Việt Nam đổi tên Cục cảnh sát biển thành Bộ tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam , báo hiệu một vai trò lớn hơn trong việc thực thi tuyên bố chủ quyền trong vùng biển ngoài khơi bờ biển dài 3.200 cây số. Công tác đào tạo và tài trợ ngân sách sẽ cũng sẽ gia tăng.

Cảnh sát biển mới , dưới kiểm soát của Bộ tư lệnh cảnh sát biển, khai thác một đội tàu tuần tra và ba máy bay Casa-212-400 để theo dõi khu vực hàng hải của Việt Nam. Hà Nội không nói rõ nơi các tàu mới sẽ được biên chế và chi phí là bao nhiêu.

"Những nỗ lực của Việt Nam để bảo vệ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa sẽ trở nên ngày càng vững chắc và không thể tránh khỏi và đất nước đang cần sự hỗ trợ hợp tác của quốc tế ", ông Dương Danh Dy , một cựu quan chức ngoại giao và là nhà phân tích Việt Nam nói.

"Sau nhiều năm thực hiện chính sách ngoại giao mềm , Việt Nam không thể chấp nhận để bị động và bây giờ là thời gian để thực hiện một lập trường mạnh mẽ", ông Dy nói với tờ The Wall Street Journal.

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh đã tham dự cuộc họp các bộ trưởng quốc phòng ASEAN hàng năm thứ Tư và thứ năm tuần trước ở Brunei, ông đã hội đàm với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel để tăng cường quan hệ quân sự. Ông Hagel chấp nhận lời mời của ông Thanh đến thăm Việt Nam trong năm tới, cả hai là cựu chiến binh trong chiến tranh Việt Nam.

Ông Thanh cũng đã đến thăm Philippines để tăng cường hợp tác an ninh hàng hải khi cả hai nước đang đối đầu với Trung Quốc trên các vùng biển. Ông Thanh gần đây đã hoàn thành một chuyến đi hai tuần đến châu Âu để làm sâu sắc thêm quan hệ quân sự và mua vũ khí từ Nga, Ba Lan, Bulgaria và Hà Lan.

Biển Đông, được cho là giàu trữ lượng dầu khí, đã trở thành một điểm nóng nhạy cảm khi Trung Quốc và các nước láng giềng phía nam tăng sức mạnh quân sự, một số nước đã khuyến khích một sự hiện diện gia tăng của Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước khác như một cách cân bằng sức mạnh với Bắc Kinh . Nhật Bản có kế hoạch cung cấp 10 tàu tuần tra cho Philippines .

Trong một động thái khẳng định chủ quyền của mình , Việt Nam trong tuần này đã tổ chức một cuộc triển lãm tại thành phố Hồ Chí Minh để giới thiệu một bộ sưu tập 200 bản đồ và tài liệu, xuất bản ở Việt Nam , Trung Quốc và các nước phương Tây từ thế kỷ 16 đến năm 1933 , củng cố tuyên bố chủ quyền lịch sử của Việt Nam.

http://blogs.wsj.com/searealtime/2013/09/01/vietnam-strengthens-coast-guard-amid-south-china-sea-tensions/

Bảo vệ biển đảo chống Trung Quốc : Ưu tiên mới của quốc phòng Nhật Bản

“Muốn hòa bình, phải chuẩn bị chiến tranh - Si vis pacem, para bellum” – Bộ Quốc phòng Nhật Bản như đang áp dụng nguyên văn câu tục ngữ La Tinh này khi đòi tăng ngân sách đáng kể cho tài khóa 2014 sắp đến. Theo các nguồn tin được tiết lộ vào hôm qua, 30/08/2013 một phần không nhỏ trong các khoản chi sẽ được dùng vào việc tăng cường năng lực bảo vệ biển đảo của Nhật Bản, tại các khu vực đang bị Bắc Kinh công khai nhòm ngó.

Trọng Nghĩa


Yếu tố thu hút sự chú ý nhiều nhất chính là kế hoạch thiết lập một đơn vị Thủy quân lục chiến tương tự như binh chủng Marines của Mỹ, được đặc biệt sử dụng trong các chiến dịch bảo vệ các hòn đảo ở vùng biển phía Nam Nhật Bản hoặc là tấn công giành lại các nơi này trong trường hợp bị đối phương xâm lược.

Trong khuôn khổ đó, quân đội Nhật Bản yêu cầu được chi 1,3 tỷ yên để trang bị hai phương tiện lội nước tấn công đổ bộ, và tăng cường chương trình huấn luyện tại Hoa Kỳ dưới sự dìu dắt của lực lượng Thủy quân lục chiến Mỹ.

Việc thành lập đơn vị lính thủy đánh bộ này được chú ý vì lẽ binh chủng Thủy quân lục chiến thường được coi như là một lực lượng tấn công, trong khi Hiến pháp Nhật Bản lại giới hạn lực lượng vũ trang nước này – vốn đã rất hùng hậu và hiện đại – vào vai trò phòng thủ và nghiêm cấm các hành vi gọi là ‘hiếu chiến’.

Khi nêu bật nhiệm vụ « bảo vệ các hòn đảo miền Nam » của lực lượng mới này, rõ ràng là Bộ Quốc phòng Nhật Bản đã nói đến vùng quần đảo Senkaku do Tokyo kiểm soát, nhưng đang bị Bắc Kinh đòi chủ quyền, và không ngừng cho tàu Tuần duyên vào khiêu khích.

Mục tiêu bảo vệ các hòn đảo bị tranh chấp cũng hiển hiện trong yêu cầu tăng cường phương tiện cho lực lượng phòng không. Binh chủng này sẽ thành lập thêm một đơn vị cảnh báo sớm, cũng trong khu vực phía Nam, với các loại phi cơ trang bị radar cực mạnh.

Bộ Quốc phòng Nhật Bản xác định là sẽ nghiên cứu đầy đủ về việc mua các loại phi cơ Osprey của Mỹ, có khả năng nghiêng cánh quạt để có thể cất cánh theo chiều thẳng đứng như trực thăng.

Bên cạnh đó là một loạt những trang thiết bị hay phương tiện vũ khí ‘truyền thống hơn, với ý định trang bị thêm một chiếc khu trục hạm trị giá hơn 73 tỷ yên, một chiếc tàu ngầm hơn 51 tỷ yên và một chiếc tàu cứu nạn tầu ngầm, gần 51 tỷ. Các công nghệ học nhằm phát hiện và theo dõi các loại phi cơ được mệnh danh là tàng hình cũng được quan tâm.

Theo các nhà phân tích, yêu cầu gia tăng ngân sách của bộ Quốc phòng Nhật Bản phản ánh chính sách mới của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, với một đường lối đối ngoại quyết đoán hơn, và một chủ trương quốc phòng mạnh bạo hơn.

Trong thời gian gần đây, ông Abe thường xuyên bày tỏ thái độ quan ngại trước vấn đề quốc phòng Nhật Bản, vào lúc mà Trung Quốc đang gia tăng các hoạt động hải quân trong vùng biển xung quanh Nhật Bản, và Bắc Triều Tiên, một quốc gia nổi tiếng với tính khí thất thường, vẫn tiếp tục chương trình hạt nhân và tên lửa của mình. Ông cũng đã kêu gọi liên minh quân sự chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ, nước đang trong tiến trình tái cân bằng lực lượng của mình qua châu Á.

Ngân sách do Bộ Quốc phòng yêu cầu tuy nhiên vẫn còn ở dạng đề nghị, phán quyết cuối cùng sẽ được đưa ra trong thời gian tới đây. Nếu được chuẩn y thì nó sẽ đánh dấu một sự gia tăng lớn nhất kể từ năm tài chính 1992 đến nay.

http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20130831-bao-ve-bien-dao-chong-trung-quoc-uu-tien-moi-cua-quoc-phong-nhat-ban

Biểu diễn nhào lộn trên không tại MAKS 2013



Theo truyền thống tại Triển lãm hàng không quốc tế MAKS 2013, các phi công hàng đầu thế giới trình diễn các kỹ năng bay xuất sắc của mình. MAKS-2013 bắt đầu từ 27 tháng 8 đến 01 tháng 9 năm 2013.

Nga hạ thủy tàu ngầm Kilo HQ-184 Hải Phòng cho Việt Nam

Chiếc tàu ngầm thứ 3 thuộc lớp Kilo Project 636 mang tên HQ-184 Hải Phòng dành cho Việt Nam đã được hạ thủy tại nhà máy Admiratly Verfi.

Nga đã hạ thủy 3 tàu ngầm Kilo cho Việt Nam, trong đó tàu ngầm Kilo Hà Nội HQ-182 đã hoàn thành thử nghiệm, sẵn sàng về nước. Ảnh minh họa

Một nguồn tin ngành công nghiệp đóng tàu Nga đã nói như vậy với hãng thông tấnInterfax.

"Chiếc tàu ngầm xuất khẩu thứ 3 đã được hạ thủy vào hôm 28/8. Các thử nghiệm neo đậu của tàu đã bắt đầu”, nguồn tin cho biết.

Trong năm nay sẽ bàn giao cho Hải quân Việt Nam 2 tàu ngầm diesel-điện thuộc lớp Kilo Project 636 đầu tiên trong hợp đồng cung cấp 6 chiếc được ký kết năm 2009.

Bên cạnh việc đóng các tàu ngầm, hợp đồng còn dự trù mục đào tạo thủy thủ đoàn cho Việt Nam, cũng như cung cấp các thiết bị và vật tư kỹ thuật cần thiết.
Để đào tạo các thủy thủ đoàn tàu ngầm Việt Nam, một trung tâm đào tạo đã được xây dựng tại vịnh Cam Ranh với sự hỗ trợ của Tập đoàn NPO Avrora.

Hãng này đã phát triển và chế tạo 5 hệ thống cho những tàu ngầm này, đặc biệt là hệ thống thông tin – điều khiển tự động Lama, hệ thống điều khiển tàu ngầm Palladium và hệ thống điều khiển hành trình Pyrit.

Tàu ngầm phi hạt nhân tấn công lớp Kilo Project 636 thuộc thế hệ tàu ngầm thứ 3. Tàu được tích hợp nhiều hệ thống vũ khí hiện đại, đặc biệt nhất là tổ hợp tên lửa chống tàu siêu thanh Klub-S cho phép tấn công đánh chìm tàu chiến cỡ lớn, hiện đại.

Trong dự án đóng tàu ngầm Kilo cho Việt Nam, lần đầu tiên nhà sản xuất đã thiết lập hệ thống hỗ trợ sự sống mới cho thủy thủ đoàn - loại bỏ áp lực trong các khoang, dập cháy bằng nitơ cũng như các hệ thống máy tính tân tiến.



Hoàng Lê - Báo Kiến Thức

Nga và Việt Nam ký thoả thuận về hợp tác quân sự

Matxcova, 30 tháng Tám. Interfax. Chính phủ Nga đã thông qua dự thảo thỏa thuận liên chính phủ giữa Nga và Việt Nam về hợp tác quân sự.


Sắc lệnh tương ứng của Thủ tướng chính phủ Dmitry Medvedev đã được đăng trong cơ sở dữ liệu các văn bản pháp lý nhà nước.

Dự thảo thỏa thuận đã được trình lên Bộ Quốc phòng Liên bang Nga.

Phù hợp với sắc lệnh của Bộ Quốc phòng Nga đã có chỉ thị tiến hành các cuộc đàm phán với phía Việt Nam với sự tham gia của các cơ quan hữu trách hành pháp liên bang và khi đạt được thỏa thuận, nhân danh Chính phủ Liên bang Nga ký kết nghị định tương ứng, cho phép đưa một số sửa đổi không có tính nguyên tắc vào trong dự thảo.

Theo dự thảo thỏa thuận, hợp tác giữa hai phía được thực hiện theo những hướng như trao đổi quan điểm và thông tin về các vấn đề quân sự và chính trị, vấn đề an ninh quốc tế và tin cậy lẫn nhau, tăng cường cuộc đấu tranh chống khủng bố và kiểm soát vũ khí.

Trong số các hướng hợp tác còn có hướng phát triển quan hệ trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo cán bộ quân sự, y học quân sự, lịch sử quân sự, địa hình, thủy văn, thể thao, văn hóa và giải trí, tương tác trong các hoạt động tìm kiếm và cứu nạn trên biển.


Theo Đài Tiếng Nói Nước Nga

Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2013

Video: Chung kết Sao mai 2013 ngày 31-8-2013



Đêm chung kết xếp loại Sao Mai 2013 diễn ra tại thành phố Hải Phòng vào tối ngày 31/8 với sự tham gia của 12 thí sinh xuất sắc nhất thuộc ba dòng nhạc thính phòng, dân gian và nhạc nhẹ.

Ban Tổ chức đã chọn ra 3 thí sinh giành giải nhất của từng dòng nhạc : Nhạc thính phòng là Võ Hồng Quân (Cộng hòa Pháp), Nhạc Dân gian là Trần Thị Huyền Trang (Nghệ An), Nhạc nhẹ là Ngô Thị Thanh Huyền (Thanh Hóa). Thí sinh được bình chọn qua mạng nhiều nhất là Phạm Thị Thùy Dung (Hà Tĩnh). Ngoài ra, Ban Tổ chức trao giải triển vọng cho 3 thí sinh khác.

12 thí sinh của 3 dòng nhạc lọt vào đêm chung kết xếp loại Sao Mai 2013, gồm: 4 thí sinh của dòng nhạc thính phòng là Võ Hồng Quân (Cộng hòa Pháp), Ngô Văn Đức (Thái Bình) và 2 thí sinh của Nghệ An là Đinh Thị Trang và Trần Thị Trang. 4 thí sinh dòng nhạc dân gian là Phạm Thị Thùy Dung (Hà Tĩnh), Ngô Thị Phương Thúy (Bắc Ninh), Trần Thị Huyền Trang (Nghệ An), Trần Thụy Miên (Hà Tĩnh). 4 thí sinh của dòng nhạc nhẹ là Trần Ngọc Vũ, thành phố Hồ Chí Minh, Ngô Thị Thanh Huyền (Thanh Hóa), Bùi Thị Hồng Chinh (Hải Phòng), Nguyễn Hoàng Tinh Uyên ( Quảng Trị).

Thành phần tham gia Ban giám khảo đêm chung kết xếp loại gồm Nhạc sĩ, Nhà giáo ưu tú Ức Trịnh, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội; Phó Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Quang Vinh, Giám đốc Nhà hát ca múa nhạc nhẹ Việt Nam; Nhạc sĩ Tuấn Phương, Phó Trưởng ban Văn nghệ Đài Truyền hình Việt Nam; Nghệ sĩ ưu tú Ngọc Lan, Trưởng khoa Thanh nhạc, Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam; Nghệ sĩ Ưu tú Minh Anh, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Hà Nội; Ca sĩ Anh Thơ, Giảng viên Nhạc viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam và Ca sĩ Tùng Dương.

Mỗi thí sinh dự thi hát 1 tác phẩm do Ban Tổ chức chỉ định và 1 tác phẩm do thí sinh tự chọn. Vị giám khảo nào có ca khúc được thí sinh lựa chọn dự thi thì sẽ không được chấm điểm thi phần đó. Điểm của thí sinh là điểm trung bình của các vị giám khảo cộng lại.